|
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
?
9.
10.
11.
12.
13.
Đ
14.
15.
16.
17.
18.
1.
Tên của bộ luật, đạo luật liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá ở Việt
nam? Ngày ban hành và ngày hiệu lực?
Ở Việt
nam không có luật nhãn hiệu hàng hoá riêng nhưng có các văn bản pháp
lý sau:
-
Phần
VI chương 2 Bộ luật dân sự
của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam được Quốc hội thông qua
ngày 28 tháng 10 năm 1995, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 1996
quy định về quyền sở hữu công nghiệp.
-
Nghị định 63/CP của Chính phủ ngày 21 tháng 10 năm 1996, sửa
đổi, bổ sung theo nghị định 06/2001/NĐ-CP ngày 1 tháng 2 năm
2001 quy định về sở hữu công nghiệp.
-
Thông tư
3055/TT-SHCN
của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ngày 31 tháng 12 năm 1996,
có hiệu lực ngày 15 tháng 1 năm 1997 hướng dẫn thủ tục thiết lập
quyền sở hữu công nghiệp
- Quy tắc xét
nghiệm 308/DK của Cục Sở hữu trí tuệ (NOIP) ngày 11 tháng 6 năm
1997, có hiệu lựcn ngày 1 tháng 7 năm 1997 quy định hình thức
và nội dung các đơn đăng ký sở hữu công nghiệp.
+
2.
Định nghĩa nhãn hiệu hàng hoá theo luật Việt nam?
Nhãn hiệu hàng hoá là
những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các
cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hoá có thể là từ
ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một
hoặc nhiều màu sắc.
+
3.
Dấu hiệu được bảo hộ theo Luật Nhãn hiệu hàng hoá Việt nam?
Để được đăng ký, nhãn
hiệu phải có tính phân biệt, không thuộc đối tượng loại trừ.
Dấu hiệu dùng làm nhãn
hiệu hàng hoá được công nhận là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng đầy
đủ các điều kiện sau đây:
a) được tạo thành từ một hoặc một số yếu
tố độc đáo, dễ nhận biết hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng
thể độc đáo, dễ nhận biết và không phải là dấu hiệu quy định tại khoản
2 Điều này;
b) không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu
hàng hoá của người khác đang được bảo hộ tại Việt Nam (kể cả các nhãn
hiệu hàng hoá đang được bảo hộ theo các Điều ước quốc tế mà Việt Nam
tham gia);
c) không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu
hàng hoá nêu trong đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá
đã nộp cho Cơ quan có thẩm quyền với ngày ưu tiên sớm hơn (kể cả các
đơn về nhãn hiệu hàng hoá được nộp theo các Điều ước quốc tế mà Việt
Nam tham gia);
d) không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu
hàng hoá của người khác đã hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực bảo
hộ nhưng thời gian tính từ khi hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực
chưa quá 5 năm, trừ trường hợp hiệu lực bị đình chỉ vì nhãn hiệu hàng
hoá không được sử dụng theo quy định tại điểm c) khoản 2 Điều 28 Nghị
định này;
e) không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu
hàng hoá của người khác được coi là nổi tiếng (theo điều 6bis Công ước
Paris) hoặc với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đã được sử dụng và
đã được thừa nhận một cách rộng rãi;
f) không trùng hoặc không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với tên thương
mại của người khác đang được bảo hộ, hoặc với chỉ dẫn địa lý (kể cả
tên gọi xuất xứ hàng hoá) đang được bảo hộ;”
g) không trùng với kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ hoặc đã được nộp
đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ với ngày ưu tiên sớm hơn;
h) không trùng với một hình tượng, nhân vật đã thuộc quyền tác giả của
người khác trừ trường hợp được người đó cho phép.
+
4.
Các dấu hiệu loại trừ theo luật Việt nam?
Các dấu hiệu sau đây không được Nhà nước bảo hộ với danh nghĩa là nhãn
hiệu hàng hoá:
a) dấu hiệu không có khả năng phân biệt, như các hình và hình hình
học đơn giản, các chữ số, chữ cái, các chữ không có khả năng phát âm
như một từ ngữ; chữ nước ngoài thuộc các ngôn ngữ không thông dụng trừ
trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và đã được thừa nhận một
cách rộng rãi;
b) dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của
hàng hoá thuộc bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường
xuyên, nhiều người biết đến;
c) dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại,
số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị mang
tính mô tả hàng hoá, dịch vụ và xuất xứ của hàng hoá, dịch vụ;
d) dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa đảo
người tiêu dùng về xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị
của hàng hoá hoặc dịch vụ;
e) dấu hiệu giống hoặc tương tự với dấu chất lượng, dấu kiểm tra, dấu
bảo hành... của Việt Nam, nước ngoài cũng như của các tổ chức quốc tế;
g) dấu hiệu, tên gọi (bao gồm cả ảnh, tên, biệt hiệu, bút danh), hình
vẽ, biểu tượng giống hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với hình quốc
kỳ, quốc huy, lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân, địa danh, các tổ
chức của Việt Nam cũng như của nước ngoài nếu không được các cơ quan,
người có thẩm quyền tương ứng cho phép.
+
5.
Người
nào có thể nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hoá?
Cá nhân,
pháp nhân, các chủ thể khác sản xuất, kinh doanh hợp pháp có quyền nộp
đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá của mình để sử dụng
cho các sản phẩm và dịch vụ mà họ sản xuất hoặc cung cấp hoặc dự định
sản xuất hoặc cung cấp.
+
6. Việc
sử dụng có cần thiết cho việc đăng ký không?
Không.
Nhãn hiệu không yêu cầu phải đang được sử dụng hoặc sử dụng trước mới
được đăng ký ở Việt nam. Vì vậy, có thể đăng ký các nhãn hiệu hàng hoá
dự định sau này sẽ sử dụng ở Việt nam. Tuy nhiên, một nhãn hiệu đã
được đăng ký phải sử dụng trong vòng 5 năm liên tục nếu không nhãn
hiệu sẽ bị huỷ bỏ hiệu lực.
+
7.
Cách thức nộp đơn nhãn hiệu hàng hoá tại Việt nam?
Đơn nhãn hiệu hàng hoá có thể nộp tại Văn
phòng Cục SHTT tại Hà nội hoặc các văn phòng đại diện tại thành phố Hồ
Chí Minh và Đà nẵng.
Các cá nhân Việt nam có quyền nộp đơn nhãn
hiệu hàng hoá trực tiếp tại các văn phòng của Cục. Người nước ngoài cư
trú ở Việt nam hoặc không có đại diện hợp pháp hoặc không có cơ sở
hoạt động sản xuất, kinh doanh thực thụ tại Việt nam có thể nộp đơn
yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ và tiến hành các thủ tục liên quan trực
tiếp với các văn phòng của Cục.
Cá nhân, tổ chức nước ngoài khác phải nộp
đơn thông qua việc uỷ quyền cho Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công
nghiệp như AMBYS thực hiện.
Việt nam chưa có hệ thống nộp đơn trực
tuyến.
+
8.
Luật Việt nam áp dụng nguyên tắc "First- to- Use" (nguyên tắc sử dụng
trước) hay nguyên tắc "First- to- File" (nguyên tắc nộp đơn trước)?
Việt nam
áp dụng nguyên tắc "First to file" đối với việc đăng ký nhãn hiệu hàng
hoá, theo đó, giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá sẽ được cấp
cho người nào nộp đơn trước. Tuy nhiên, nguyên tắc "First to file"
không được áp dụng trong những trường hợp sau:
- nhãn
hiệu nổi tiếng theo công ước Paris; hoặc
- nhãn
hiệu được sử dụng rộng rãi và đã được ghi nhận.
Trong những trường hợp này, việc giấy chứng nhận
đăng ký nhãn hiệu sẽ được cấp cho người nào chứng minh được rằng nhãn
hiệu của mình là nổi tiếng hoặc được sử dụng rộng rãi và được ghi
nhân.
+
9.
Đơn nhãn hiệu hàng hoá nộp vào Việt nam có thể xin quyền ưu tiên
không?
Có. Có thể xin quyền ưu tiên theo công ước Paris
(PC) dựa trên đơn đã nộp sớm hơn ở một nước ngoài
là thành viên công ước PC hoặc triển lãm quốc tế
được ghi nhận chính thức được tổ chức ở Việt nam hoặc ở một nước ngoài
là thành viên của công ước PC. Có thể xin quyền ưu tiên theo các hiệp
ước song phương hoặc dựa trên các nguyên tắc thoả thuận giữa hai bên.
Để được hưởng quyền ưu tiên, đơn phải được nộp trong vòng 6 tháng kể
từ ngày nộp đơn đầu tiên hoặc ngày triển lãm như đã đề cập ở trên.
+
10.
Việt nam áp dụng hệ thống phân loại hàng hoá và dịch vụ nào? Có thể
nộp một đơn cho gồm nhiều nhóm sản phẩm được không?
Phân loại
quốc tế nhãn hiệu hàng hoá và dịch vụ theo thoả ước Nice (phiên bản 8)
được dùng để phân loại hàng hoá và dịch vụ đối với các đơn nhãn hiệu
hàng hoá nộp vào Việt nam.
Có. Một
đơn nhãn hiệu hàng hoá không thể gồm nhiều nhãn hiệu nhưng có thể gồm
nhiều đến 45 nhóm hàng hoá và dịch vụ.
+
11. Việt
nam có phải là thành viên của Hiệp ước Madrid hay Nghị định thư Madrid
hay không?
Việt nam là thành
viên của Hiệp ước Madrid từ năm 1949.
Việt nam là thành
viên của Nghị định thư Madrid từ 11/07/2006.
+
12. Giấy
uỷ quyền chung được chấp nhận ở Việt nam hay không?
Có. Cục SHTT chấp nhận
giấy uỷ quyền chung cho các đơn nhãn hiệu hàng hoá của cùng một
người nộp đơn. Nếu trong giấy uỷ quyền chung ghi rõ một số nhãn hiệu
cụ thể thì các đơn nộp cho các nhãn hiệu khác cần
giấy uỷ quyền riêng. Bản sao hoặc bản sao qua fax của giấy uỷ
quyền được chấp nhận lúc nộp đơn với điều kiện là bản chính phải nộp
trong vòng 3 tháng kể từ ngày nộp đơn.
+
13.
Đơn
nhãn hiệu hàng hoá được xét nghiệm như thể nào?
Các đơn
nhãn hiệu hàng hoá được Cục SHTT xét nghiệm hình thức trong vòng 3
tháng kể từ ngày nộp đơn. Nếu đơn đáp ứng được các yêu cầu về mặt hình
thức, Cục SHTT sẽ ra thông báo chấp nhận đơn trong đó nêu rõ ngày nộp
đơn chính thức, số đơn chính thức và ngày ưu tiên nếu có. Trong trường
hợp đơn không đáp ứng các yêu cầu hình về mặt hình thức, Cục SHTT sẽ
đưa ra thông báo từ chối chấp nhận đơn hoặc Thông báo sửa đổi hoặc sửa
chữa thiếu sót tuỳ từng trường hợp.
Sau khi được chấp nhận
hình thức, đơn sẽ được xét nghiệm nội dung trong vòng 9 tháng kể từ
ngày chấp nhận hình thức. Trong quá trình xét nghiệm hình thức, Cục
SHTT sẽ xem xét nhãn hiệu yêu cầu bảo hộ có tính phân biệt và rơi vào
các dấu hiệu loại trừ không. Trong quá trình này, người nộp đơn có thể
yêu cầu sửa đổi hoặc thay đổi nhỏ đối với đơn, ví dụ, không bảo hộ một
số yếu tố của nhãn hiệu hoặc hạn chế hàng hoá và/ hoặc dịch vụ.
Đơn nhãn hiệu hàng hoá quốc tế được nộp
theo Hiệp ước Madrid cũng được Cục SHTT xét nghiệm nội dung trong vòng
1 năm kể từ ngày mở rộng bảo hộ đến Việt nam.
Nếu nhãn hiệu không đáp ứng tiêu chuẩn
đăng ký, Cục SHTT sẽ ra thông báo kết quả xét nội dung trong đó thông
báo cho người nộp đơn dự định từ chối không cấp văn bằng bảo hộ và lý
do từ chối, hoặc các thiếu sót và sửa đổi cần phải bổ sung. Người nộp
đơn có 2 tháng để trả lời hoặc sửa chữa. Nếu người nộp đơn không có ý
kiến hoặc ý kiến không phù hợp, Cục SHTT sẽ chính thức ra thông báo từ
chối cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá.
Nếu nhãn hiệu hàng hoá đáp ứng tiêu chuẩn
để đăng ký hoặc trả lời thông báo của Cục đáp ứng được thì Cục SHTT sẽ
cấp giấy chứng nhận đăng ký NHHH và Quyết định cấp văn bằng bảo hộ.
+
14.
Thời hạn
bảo hộ tối đa đối với nhãn hiệu hàng hoá? Làm thế nào để gia hạn nhãn
hiệu hàng hoá? Có thể gia hạn muộn được không?
Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá có hiệu lực từ ngày cấp đến
hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn và có thể gia hạn thêm mỗi lần 10 năm.
Để gia hạn giấy chứng
nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, yêu cầu gia hạn phải được nộp với Cục
SHTT trong vòng 6 tháng trước ngày hết hạn hiệu lực và phải nộp lệ phí
duy trì.
Có. Yêu
cầu gia hạn có thể nộp muộn trong vòng 6 tháng và phải nộp 10% lệ phí
cho mỗi tháng nộp muộn.
+
15.
Việt nam có bảo hộ nhãn hiệu không đăng ký hay không?
Không. Quyền đối với
nhãn hiệu hàng hoá ở Việt nam phát sinh trên cơ sở đăng ký với Cục
SHTT hoặc qua hệ thống Madrid theo hiệp ước Madrid.
Quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng phát sinh trên cơ sở quyết
định ghi nhận nhãn hiệu nổi tiếng do cục SHTT cấp.
+
16.
Có
thể phản đối đơn/ giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá tại Cục
SHTT Việt nam không?
Có. Phản đối có thể nộp tại Cục SHTT đối với các đơn nhãn hiệu đã được
công bố trong giai đoạn xét nghiệm nội dung. Việc huỷ bỏ nhãn hiệu có
thể được thực hiện trong vòng 5 năm kể từ ngày cấp giấy chứng nhận
đăng ký nhãn hiệu hàng hoá. Không có thời gian hạn chế cho việc huỷ bỏ
nhãn hiệu được đăng ký với mục đích không lành mạnh.
+
17.
Nếu tôi đã đăng ký một nhãn
hiệu hàng hoá thì điều đó có cho phép tôi tự động sử dụng nhãn hiệu đó
làm tên miền không?
Không. Bởi vì nhiều người có thể đăng ký cùng một nhãn hiệu
cho các nhóm sản phẩm và dịch vụ khác nhau, người khác cũng có thể có
quyền đăng ký nhãn hiệu đó làm tên miền. Tên miền được đăng ký dựa
trên nguyên tắc đăng ký trước.
+
18.
Nếu tôi đã đăng ký một tên miền thì
điều đó có cho phép tôi tự động sử dụng tên miền đó làm nhãn hiệu hàng
hoá hay không?
Không. Vì quyền đối
với nhãn hiệu hàng hoá tại Việt nam được thiết lập trên cơ sở đăng ký
với Cục SHTT. Nếu tên miền của bạn đã được đăng ký nhưng nhãn hiệu
hàng hoá trùng tên hoặc tương tự có thể không đáp ứng được yêu cầu cơ
bản đối với việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, hoặc tương tự gây nhầm
lẫn với nhãn hiệu của người nộp đơn sớm hơn.
+
|