|
Các hành vi vi
phạm quyền SHTT có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong một
số trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng. Bộ luật hình sự hiện hành
của Việt nam có quy định một số điều khoản quy định hình phạt đối
với tội liên quan đến hàng giả và vi phạm quyền SHTT:
Điều 131- Tội xâm
phạm quyền tác giả.
Điều 171- Tội xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp
Điều 156- Tội sản
xuất, buôn bán hàng giả
Điều 157- Tội sản
xuất buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh,
thuốc phòng bệnh.
Điều 158- Tội sản
xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón,
thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi.
Hình phạt đưa ra đối với người phạm tội theo điều 131 và 171 tương
đối giống nhau, đó là bất kỳ người nào vi phạm quyền sở hữu công
nghiệp hoặc quyền tác giả gây ra hậu quả nghiêm trọng, hoặc bất kỳ
người phạm tội đã bị xử phạt hành chính, hoặc người đã bị kết án
về tội này chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền
từ 20 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ
đến 2 năm. Trong một số trường hợp phạm tội gây hậu quả rất nghiêm
trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 3 năm. Ngoài
các hình phạt trên, người phạm tội còn
có thể bị phạt tiền đến 100
triệu đồng.
Điều 156, 157 và
158 quy định bất kỳ người nào sản xuất, buôn bán hàng giả tương
đương với số lượng hàng thật có giá trị từ 30-150 triệu đồng hoặc
dưới 30 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử
lý hành chính hoặc bị kết án về một trong các tội này, chưa được
xoá án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tù đến 5 năm. Nếu sản phẩm
giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh
(điều 157), gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù đến
20 năm, chung thân, hoặc tử hình.
Chủ sở hữu quyền
SHTT có thể tiến hành khởi kiện theo thủ tục hình sự khi
phát hiện ra các hành vi vi phạm. Chủ sở hữu quyền phải thu thập
bằng chứng vi phạm, xác định tên, địa chỉ, người vi phạm hoặc địa
điểm kinh doanh hàng vi phạm và nhà kho.
Chủ sở hữu quyền
SHTT có thể nộp cho cơ quan điều tra (Công an hoặc Kiểm sát)
cùng với những bằng chứng và thông tin thu được về địa điểm kinh
doanh và kho của người vi phạm.
Cơ quan điều tra gồm Công an và Kiểm
sát các cấp. Trong quá trình điều tra, các cơ quan điều tra có
quyền tiến hành biện pháp ngăn chặn gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam,
cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị
để đảm bảo. Các cơ quan điều tra có thể yêu cầu các chuyên gia
SHTT đưa ra ý kiến đánh giá. Toàn bộ quá trình điều tra được thực
hiện dưới sự giám sát và kiểm soát nghiêm ngặt của kiểm sát viên.
Việc điều tra kết thúc khi cơ quan điều tra đưa ra bản kết luận
điều tra và đề nghị truy tố . Kết luận điều tra và đề nghị truy tố
phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Viện kiểm sát là cơ quan điều tra
không những có quyền giám sát việc điều tra và xét xử mà còn có
quyền buộc tội và khởi tố người phạm tội
Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm là
toà án cấp quận, huyện. Trong một số vụ án phức tạp, toà sơ thẩm
có thể là toà án cấp tỉnh hoặc cấp thành phố. Nếu vụ án có yếu tố
nước ngoài, toà án có thẩm quyền xét xử là toà án nhân dân thành
phố Hà nội hoặc toà án nhân dân thành phố Hồ chí minh. Quyết định
của toà án sơ thẩm có thể bị khiếu nại đến toà án cấp cao hơn hoặc
đến Toà án nhân dân tối cao.
Trong quá trình
tố tụng hình sự, chủ sở hữu quyền là người bị thiệt hại hay còn
gọi là bên nguyên đơn dân sự, có quyền đưa ra bằng chứng và yêu
cầu bồi thường, khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của toà án
về phần bồi thường thiệt hại và hình phạt đưa ra đối với người bị
buộc tội.
Chủ sở hữu quyền
có quyền yêu cầu toà án cung cấp trích lục bản án hoặc bản sao cua
bản án. Việc bồi thường thiệt hại theo bản án đã tuyên được thực
hiên theo thủ tục Thi hành án Dân sự.
+
|